dịch vụ ly hôn

dịch vụ ly hôn

[HOI-DAP] LY HÔN - Chi tiết tin

Tư vấn khoản nợ chung sau khi ly hôn vợ không trả có được không

7/3/2018 10:16:32 AM

Tôi đang làm điều dưỡng tại 1 bệnh viện tư nhân, công việc ổn định. Tôi đang nghỉ trong thời gian chăm sóc con nhỏ dưới 6 tháng tuổi. Vợ chồng tôi kết hôn được 2 năm, có mua 1 căn nhà chung

Câu hỏi :

Tôi đang làm điều dưỡng tại 1 bệnh viện tư nhân, công việc ổn định. Tôi đang nghỉ trong thời gian chăm sóc con nhỏ dưới 6 tháng tuổi. Vợ chồng tôi kết hôn được 2 năm, có mua 1 căn nhà chung. Căn nhà được mua bởi 1 phần tiền gia đình bên chồng bán nhà chia cho chồng tôi sau khi chúng tôi kết hôn và chúng tôi đứng tên chung vay ngân hàng 500 triệu để mua nhà, thế chấp bằng căn nhà hiện tại. Thời hạn vay là 10 năm, chúng tôi cùng trả nợ được 1 năm. Hiện tại cuộc sống vợ chồng tôi thấy không hạnh phúc, không có tiếng nói chung. Xin hỏi luật sư, tình cảnh tôi như vậy có ly hôn được không. Tôi có được quyền nuôi dưỡng con hay không. Và nợ ngân hàng, tôi có thể không cùng trả nợ nữa hay không. Tôi không cần trợ cấp nuôi của cha đứa bé, và cũng không muốn phân chia tài sản, tôi nhường ngôi nhà lại cho chồng tôi với điều kiện tôi muốn lấy lại số tiền mà tôi đã cùng trả nợ trong 1 năm có được không. Xin luật sư tư vấn giúp tôi.

 

Câu trả lời :                   

Về quyền nuôi con, theo Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình 2014 có quy định cụ thể như sau:

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.”

Trong trường hợp của bạn, do con của bạn con nhỏ, dưới 36 tháng tuổi, đồng thời bạn có công việc là nhân viên điều dưỡng với mức thu nhập ổn định, cho nên bạn hoàn toàn có quyền nuôi con. Trừ trường hợp chồng ban có chứng minh được bạn không đủ điều kiện để trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, nuôi dưỡng con, cụ thể điều kiện về kinh tế (có công ăn việc làm ổn định, có mức thu nhập phù hợp để chăm con), điều kiện về sức khỏe (có mắc những bệnh lây nhiễm, bệnh hiểm nghèo mà không có đủ điều kiện chăm sóc cho con), điều kiện môi trường sống và thời gian chăm sóc cho con.

Về tài sản chung của hai vợ chồng, tại Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình 2014 có quy định:

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.”

Như thông tin chị cung cấp, ngôi nhà được mua bởi một phần tiền gia đình bên chồng bán nhà chia cho chồng và hai vợ chồng đứng tên chung vay ngân hàng 500 triệu để mua nhà, thế chấp bằng căn nhà hiện tại. Do vậy, đây là bất động sản hình thành trong thời kỳ kết hôn theo quy định là tài sản chung của hai vợ chồng hiện tại, nên chị hoàn toàn có quyền được chia phần tài sản chung này khi ly hôn.

 

Về khoản nợ chung tại khoản 1 Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định về nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn như sau:

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

2.Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.”

3.Khoản nợ 500 triệu đồng do hai vợ chồng chị đứng tên chung để vay ngân hàng mua nhà. Về mặt pháp lý, sau khi ly hôn, anh, chị không còn là vợ chồng của nhau nữa nhưng những tài sản mà anh, chị yêu cầu tòa án giải quyết và kể cả các khoản nợ được hình thành trong thời kỳ hôn nhân thì vẫn được hiểu là tài sản chung và nghĩa vụ chung của vợ chồng nên việc chia tài sản chung sau ly hôn cũng áp dụng tương tự các quy định của pháp luật như chia tài sản khi ly hôn. Do vậy chị vẫn có trách nhiệm cùng chồng mình trả khoản nợ 500 triệu trên.

Xét thấy nguyện vọng chị đề ra thì chị cùng nên cùng ngồi lại và bàn bạc, thỏa thuận với nhau. Vì thực tế, Tòa án rất coi trọng thỏa thuận của hai vợ chồng. Do vậy, nếu chồng chị và chị thỏa thuận được với nhau về vấn đề nuôi dưỡng con cái, phân chia tài sản cũng như khoản nợ chung của hai vợ chồng thì Tòa án vẫn chấp thuận nguyện vọng của hai anh chị.

+ Nếu như bạn vẫn cảm thấy khó khăn trong việc tự mình giải quyết thủ tục ly hôn hãy tham khảo ngay  dịch vụ ly hôn và dịch vụ ly hôn nhanh của chúng tôi.

 

Tư Vấn Ly Hôn Đơn Phương

       LIÊN HỆ VỚI LUẬT SƯ TƯ VẤN HÔN NHÂN GIA ĐÌNH

    Địa chỉ: Số 9,Ngách 6A ,Ngõ 6 ,Đường Phạm Văn Đồng ,Q.Cầu Giấy,TP.Hà Nội.

      Điện thoại: 04.6682.7986 / 6682.8986

      Hỗ Trợ 24/7 Skype : nguyendat235 & yahoo : luatsutraloi1

      Tổng đài tư vấn miễn phí : 1900.8698

      Email: hanoi@newvisionlaw.com.vn

 

 

Hãy gửi yêu cầu để Luật Sư Văn Phòng Luật Sư TGS Law tư vấn miễn phí nhanh nhất !

 

 

XEM NGAY LUẬT SƯ CÔNG TY LUẬT TGS TƯ VẤN LY HÔN.

 

       

 

 

Tag :
4061

Tin tức liên quan

Cá nhân có được hủy yêu cầu kết hôn trái pháp luật (18/09/2018 14:48:23)

Cưỡng ép người khác kết hôn có bị nhà nước cấm (11/09/2018 09:57:43)

Hành vi cấm trong luật hôn nhân và gia đình 2014 (06/09/2018 16:55:04)

Tư vấn và hướng dẫn giành quyền nuôi con sau khi ly hôn (04/08/2018 09:53:37)

Tài sản chung của vợ chồng đứng tên bố mẹ thì khi ly hôn có được chia không (20/07/2018 09:17:26)

Câu hỏi tình huống sổ đỏ nhà mang tên chồng thì khi ly hôn vợ có được chia không (03/07/2018 11:08:26)

Hướng dẫn xin xác nhận tình trạng hôn nhân (12/03/2018 10:08:15)

Tư vấn ly hôn tại Thành Phố Bắc Ninh (08/01/2018 14:36:09)

Vợ không đủ điều kiện nuôi dưỡng,chồng có được nuôi con dưới 36 tháng tuổi không (02/01/2018 09:25:54)

Tư vấn ly hôn đơn phương và đòi quyền nuôi con (21/12/2017 11:48:23)

Thông tin liên hệ

HÀ NỘI:

Địa chỉ: Số 9,Ngách 6A,Ngõ 6,Phạm Văn Đồng ,Q.Cầu Giấy,TP.Hà Nội

Email: hanoi1@newvisionlaw.com.vn

Hotline: 1900.8698

TP. HỒ CHÍ MINH:

Địa chỉ: Số 52C Nguyễn Thị Huỳnh, Phường 11, Q.1, HCM

Email: contact@newvisionlaw.com.vn   

Hotline: 1900.8698

THÁI NGUYÊN:

Địa chỉ: Số 126 A, tổ 7, đường Phan Đình Phùng, Thành phố Thái Nguyên.
Email: tn@newvisionlaw.com.vn
Hotline: 1900.8698
 

DMCA.com Protection Status

© Copyright 2014 Hãng Luật TGS LAWFIRM.